Chiều ngày 10/01/năm 2012, TT.Thích Chân Quang – Trụ trì Thiền Tôn Phật Quang (BRVT), nhận lời mời của ông Đàm Hữu Đắc – Phó Chủ tịch Thường trực TW Hội Người Cao Tuổi Việt Nam, đã có buổi nói chuyện về chủ đề ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI tại khu biệt thự Hồ Tây (số 8 – Đặng Thai Mai – Hà Nội). Đây là đề tài gợi mở những quan điểm trong đời sống tâm linh, đời sống tinh thần, góp phần đem lại cho người cao tuổi một khả năng tư duy, làm thế nào để tự mình sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc, sống có ích cho gia đình và cho xã hội, nhằm thể hiện giá trị của người già.
Tham dự buổi nói chuyện của TT.Thích Chân Quang có: Chư tôn đức Tăng Ni trong và ngoài thủ đô Hà Nội. Ngoài ra còn có sự tham dự của ông Đàm Hữu Đắc - Phó Chủ tịch Thường trực TW Hội Người Cao Tuổi Việt Nam; ông Kim Quốc Hoa – Tổng Biên Tập Báo Người Cao Tuổi; ông Lê Ngọc Hoàng – nguyên Đại biểu Quốc Hội khoá IX – nguyên Bộ trưởng Bộ GTVT cùng các vị trong Ban Chấp Hành TW Hội; Ban Thường Vụ TW Hội và đông đảo Hội viên Hội Người Cao Tuổi TP.Hà Nội, cũng như đông đảo Phật tử các Đạo tràng thuộc các tỉnh lân cận Hà Nội.
Trước khi đi vào đề tài sinh hoạt đạo lý, ông Kim Quốc Hoa giới thiệu TT.Thích Chân Quang với Hội viên Hội Người Cao Tuổi TP.Hà Nội rằng: Trong những năm qua, TT.Thích Chân Quang luôn có sự quan tâm đặc biệt đối với người cao tuổi. Thượng tọa cùng Tăng Ni, Phật tử Thiền Tôn Phật Quang đã tham gia nhiều chương trình và phong trào hành động của người cao tuổi và Hội Người Cao Tuổi Việt Nam. Từng ủng hộ giúp đỡ TW Hội Người Cao Tuổi VN tổ chức Đại hội thi đua yêu nước “Tuổi Cao - gương Sáng” lần thứ II vào ngày 1 - 2/06/năm 2010 tại Hà Nội. Từng tham gia các chương trình từ thiện như xây nhà tình nghĩa - nhà tình thương, tặng quà tết cho người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, giúp đỡ học sinh nghèo, góp phần chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần cho NCT.
Nhân dịp này, TW Hội Người Cao Tuổi Việt Nam đã tặng bằng khen cho Thiền Tôn phật quang (BRVT) cùng kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi Việt Nam"cho TT.Thích Chân Quang.
Trong niềm hân hoan thành kính của hơn 2000 phật tử đến tham dự buổi nói chuyện về chuyên đề ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI, TT.Thích Chân Quang đã nêu lên những khái niệm về niềm vui, hạnh phúc và nổi khổ của con người trong cuộc sống này mà ai cũng đã trải nghiệm qua. Đức Phật dạy rằng: Con người có tám nổi khổ.Trong đó, bốn nổi khổ đầu tiên là “sinh - già - bệnh - chết” - thì “Già” thực sự là một nổi khổ mà những ai đã già mới thấm thía sâu sắc về cái khổ này. Với ý nghĩa đó, Thượng tọa tán thán sự sáng suốt lớn lao của cấp Lãnh đạo nhà nước ta đã quan tâm tâm đến cả một thế hệ người già mà lập ra Hội Người Cao Tuổi trong cả nước và có kế hoạch chăm sóc người cao tuổi chu đáo. Đồng thời, càng tiếp cận càng hiểu được vai trò của Hội NCT đối với đời sống cộng đồng nhân dân ta để mà nể phục Ban Lãnh Đạo của Hội.
Tiếp theo, Thượng tạo phân tích cái tâm lý vì sao người già hay tủi thân? Thế nào là tuổi già? Trong đó nhấn mạnh làm sao cho người già bớt khổ mà sống vui cho tới cái ngày nhắm mắt ra đi. Đó là mục tiêu phấn đấu của chúng ta, tức là từng ngày còn sống là từng ngày an vui.
Tuy nhiên, để có được điều này không phải dễ, ngay cả những người xuất gia tu hành mà nếu thực hành sai lời Phật dạy vẫn chết trong đau khổ như thường. Ngược lại có những người không hiểu họ biết đạo phật hay không, nhưng cuộc sống của họ đẹp đến nổi tự tại bình thản vui vẻ trước khi ra đi và thậm chí có người báo trước ngày chết. Trong cuộc sống chúng ta cũng thường chứng kiến có những con người đi đến một kết thúc đẹp như thế! Thì đây là giá trị của con người đó.
Thượng tọa nêu ra các khái niệm về “Già”:
- Thứ nhất là tuổi già.
- Thứ hai là già trên thực tế, tức là thể chất yếu - tinh thần giảm và không còn khả năng đóng góp gì cho cuộc đời nữa. Lại nữa, có một cái già gọi là già trên quan niệm, tức là người này không muốn làm gì cho đời nữa, chỉ thích hưởng thụ, thích được người khác cung phụng v.v… thì ngay lập tức người đó già, mặc dù không biết tuổi nào.
Bằng những ví dụ cụ thể, có thật trong cuộc sống, Thượng tọa chứng minh cho mọi người thấy « Cái già trên quan niệm - không muốn cống hiến nữa - là hết sức nguy hiểm cho chúng ta ». Đây là cốt lõi của bài nói chuyện mà Thượng tọa muốn chia sẻ về quan điểm người muốn cống hiến hay không còn muốn cống hiến.
Có những tố chất để thẩm định « Người già mà không già », đó là :
- Những người luôn tìm cách cống hiến, luôn tìm cách phụng sự cho đời thì những người đó không biết họ bao nhiêu tuổi nhưng ta nói người đó không già vì ước muốn cống hiến không ngừng của họ.
Ta có một triết lý sống « Một ngày sống vô ích thì ngày đó miếng cơm manh áo là sự phí phạm, là cái nợ, kể cả người già. Ví dụ như có người bắt đầu đi vào tuổi già, nhưng vẫn còn cống hiến được, vẫn còn làm cái gì đó cho gia đình, làng xóm của mình hoặc tham gia Câu Lạc Bộ, hoặc đến với Hội Người Cao Tuổi, cùng nhau chăm sóc người yếu hơn mình. Tức là không dừng sự cống hiến « Một ngày sống là một ngày có ích ».
Có những trường hợp người có phúc thì họ dư ăn dư để và họ không cần làm gì mà vẫn có cơm ăn, áo mặc. Nhưng đó là điều nguy hiểm mà nếu ta hiểu được đạo lý « Nhất nhựt bất tác nhất nhựt bất thực », bởi vì phước quá khứ của ta cho phép ta không phải làm điều gì vẫn đủ ăn đủ mặc. Tuy nhiên nếu ta sống hưởng thụ tức là ta đang mất lý tưởng sống của mình thì coi chừng ta không có một cái chết an vui tốt lành vì khoảng tuổi già ta sống vô ích.
Thượng tọa đặt vấn đề đối với lớp trẻ là sinh viên, tại sao có những sinh viên cực kỳ thiếu thốn, phải đi làm vất vả mới có tiền ăn học nhưng mà có những sinh viên cha mẹ nuôi đủ và không cần kiếm thêm việc làm. Sự khác biệt đó là do cái phúc quá khứ, cái phúc này nó bao gồm cả đời trước và đời này.
Đời trước ta không biết nên không bàn nhưng đời này nếu em nào khi còn nhỏ sống với bố mẹ mà hiếu thảo, biết vâng lời, hay giúp đỡ sống tử tế với mọi người, sống có ích thì tự nhiên người này có cái phúc, lớn lên học hành thuận lợi đời sinh viên không thiếu thốn vì nhân quả gần của nó. Cũng vậy trong đời sinh viên mà người nào hay tham gia các hoạt động tình nguyện (như mùa hè xanh) để xây nhà tình thương, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, đi làm cầu đường nông thôn, v.v.. tức là trong quãng đời sinh viên các em luôn làm những việc thiện nguyện thì khi ra trường sẽ có điều kiện tốt dễ kiếm việc làm, không bị thất nghiệp. Còn là sinh viên, em nào không có những hoạt động thiện nguyện, chỉ sống vui chơi thì khi ra trường tỷ lệ thất nghiệp sẽ khá cao. Bước tiếp theo, người có việc làm rồi mà hay tận tụy siêng năng phụng sự giúp người, giúp đời thì người đó dễ thăng tiến trên con đường sự nghiệp, cuộc sống cứ tốt dần lên theo thời gian. Còn nếu trong 5 - 10 năm đầu làm việc, ta có những sai lầm trong cách sống và suy nghĩ, phụng sự không chu đáo thì 10 năm sau đời sống của ta bắt đầu vất vả, ít thành công, bởi vì nhân quả nó liền kề không đợi tới kiếp sau. Thông thường nhân quả nó liền kề trong 5 năm hay 10 năm. Cứ 5 năm này nó ảnh hưởng đến 5 năm tiếp theo, 10 năm này nó ảnh thưởng đến 10 năm sau.
Rồi thì cái tuổi về hưu, cái quảng đời tuổi già nếu ta sống vô ích ta sẽ rất khổ vì bệnh đau, có khi sống không được chết không được, ta trở thành gánh nặng cho con cháu khi về già. Còn nếu trong khoảng tuổi già đó, ta tiếp tục sống có ích thì lúc cuối đời ta được an lành, có một cái chết nhẹ nhàng thanh thản. Trong cái luật nhân quả của đạo Phật thì cái phúc và tội của kiếp xưa ảnh hưởng tới kiếp này, rồi cái phúc và tội kiếp này ảnh hưởng tới kiếp sau, nhưng nó có cái phần nhân quả liền kề của 5 năm hay 10 năm nối tiếp nhau. Hiểu điều này chúng ta sống cho đúng thì cuộc đời sẽ hạnh phúc an vui hơn. Đặc biệt là người già, mặc dù sức khỏe của ta yếu dần, khả năng cống hiến giảm đi nhưng cái lý tưởng cống hiến không bao giờ dừng lại - không bao giờ được suy giảm, vì ta mang lý tưởng này qua kiếp sau luôn không chỉ giới hạn của một kiếp này.
Để chuẩn bị cho tuổi già ta sống tràn đầy phúc lộc, không cần làm gì vẫn có ăn có mặc nhưng mà ta vẫn phải làm và cống hiến thì mỗi người khôn ngoan chọn cho mình cái cách cống hiến tuổi già. Thượng tọa gợi ý có nhiều cách cống hiến tuổi già sao cho phù hợp với sức khỏe, tuổi tác của mỗi người. Ví dụ như tham gia Hội NCT, tham gia các Đạo tràng tu tập… thì công việc từ từ nó mở ra, ta có một môi trường tiếp tục cống hiến. Có khi ta đóng góp bằng tiền, có khi bằng công sức, bằng lời nói và có khi ta chỉ đóng góp bằng lời cầu nguyện thôi nhưng mà sự đóng góp đó quý giá. Tùy vào công sức của ta, có khi ta lo cho nhiều người nhưng cũng có khi ta chỉ lo được cho ít người nhưng đó cũng là sự đóng góp. Khi tâm ta lo được cho nhiều người thì tâm đức ta càng lớn.
Nói già mà không già là những người không ngừng lý tưởng phục vụ cho cuộc đời. Chúng ta có phúc đủ ăn đủ mặc không cần lao động, nhưng chúng ta không bao giờ cho phép mình sống một ngày vô ích. Chính điều này tạo nên tin thần an vui mạnh mẽ của người cao tuổi, vì mỗi một ngày cống hiến là an vui, ăn miếng cơm - uống miếng nước là không phí phạm cho đời. Ngược lại, người nào mà ngưng tinh thần cống hiến thì bắt đầu tủi thân, hay hoài niệm quá khứ và lo sợ cái chết tương lai. Hiểu được điều này là ta đã nắm được bí quyết cuộc sống an vui cho hết kiếp này và kiếp sau, dù tuổi cao hay là tuổi chưa cao.
Tiếp theo, Thượng tọa đề cao người già qua câu nói « Người cao tuổi có cái quý hơn vàng bạc mà không ai cướp được và khai thác cũng không hết đó là kinh nghiệm của cuộc sống ». Có những người về hưu rồi mà cái kinh nghiệm vẫn còn đầy ấp, đây gọi là tài sản phi vật thể của quốc gia. Mặc dù những vị đó sức yếu và năng lực hạn chế nhưng những kinh nghiệm đã có vẫn là cái trí tuệ. Nếu chúng ta học được cái kinh nghiệm đó sẽ giúp ích cho mình rất nhiều trong cái gọi là thành công trên đường đời. Đất nước ta, xã hội ta và đạo pháp của ta rất cần sức trẻ. Chúng ta yêu quý người trẻ, đặt nhiều kỳ vọng nơi lớp trẻ nhưng cái kinh nghiệm của người lớn tuổi rất cần bổ sung cho người trẻ, để cho lớp trẻ nhanh chóng thoát khỏi tính mơ mộng và tưởng tượng của cuộc đời mà kịp thời bước vào đời sống thực tế khắc nghiệt này, có thể cống hiến nhiều hơn.
Với tầm nhìn thực tiển như vậy, Thượng tọa đề nghị TW Hội Người Cao Tuổi nên có cách nào đó để người cao tuổi có điều kiện đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm cho lớp trẻ. Cái cách đó có hai trường hợp:
- Một là ta cho người đến gặp những vị mà ta nghĩ có nhiều kinh nghiệm để ghi chép lại.
- Hai là ta tạo một cuộc diễn đàn cho hai thế hệ ngồi đối thoại với nhau.
Khi lớp trẻ có dịp ngồi với các vị lớn tuổi để nghe các vị cản điều này và phân tích điều kia lợi hại thế nào thì khi bước vào cuộc sống các em làm việc hiệu quả hơn, đây là điều thú vị!
Mặt khác, Thượng tọa cũng đề cập đến việc đối phó với tình trạng dân số già khi mà hiện nay dân số thế giời đang già dần vì có những quốc gia hạn chế sinh con. Điều này có nghĩa là lớp trẻ phải gánh vác nhiều hơn nữa (một người trẻ phải cõng năm hay sáu người già) thì xã hội đuối luôn không phát triển, không còn dư ra để đầu tư cho tương lai. Vì thế, giải pháp được đặt ra là:
- Thứ nhất, ta làm cho người cao tuổi bổng dưng trẻ hóa lại hết, tức là người già đó tự chăm sóc cho bản thân mình, không tạo gánh nặng cho xã hội nữa. Ví dụ ông bà nuôi cháu dùm con để con đi lao động sản xuất phục vụ cho đời. Nhờ có ông bà nuôi cháu và trông cháu giúp nên giảm cái chi phí nuôi con thì con mình sinh tiếp. Do đó dân số không bị già do ông bà chăm cháu và không tốn tiền để thuê người. Thậm chí ông bà còn giúp được nhiều thứ. Cho nên nó giảm chi phí cho thế hệ mai sau.
- Thứ hai, khi người già gánh bớt gánh nặng cho con thì đất nước này sẽ có số dư ra mà đầu tư cho tương lai là vì tình yêu tổ quốc (mở mang trường học, đường cao tốc, bệnh viện, đầu tư và nghiên cứu kỹ thuật, v.v…) .
Với hai ý nghĩa lớn, một là vì tình yêu thiêng liêng với con cháu, hai là tình yêu lớn lao đối với tổ quốc cho nên ta không bao giờ là gánh nặng của con cháu mà chia luôn gánh nặng đó một cách tự nguyện. Như vậy dù cho dân số ta có già nhưng xã hội không khủng hoảng, vì gia đình nào cũng đáng yêu đáng kính, vì người già nào cũng cực kỳ có ích cho xã hội.
Đặt trường hợp, nếu một người bị bệnh, già yếu quá thì con cháu phải chăm sóc và như vậy ta trở thành gánh nặng cho người thân, cho xã hội. Lúc đó giải pháp được chọn là: Ta có cách tập luyện để bệnh mà không vất vả đau đớn và không cần nhiều chăm sóc y tế rất tốn kém; không có những lối sinh hoạt phá hoại sức khỏe; biết luyện tập khí công; biết tu thiền; biết ăn uống giảm bớt thức ăn động vật; dùng thuốc thảo dược cân bằng cơ thể, nên hạn chế dùng loại thuốc gây phản ứng phụ thì lúc đó có bệnh và già yếu dần nhưng mà không hình thành cơn bệnh độc. Đối với người mắc bệnh ung thư nên lạy Phật sám hối, chữa trị bằng tâm linh thì kết quả sẽ cao hơn khi ta hiểu rõ nguyên lý của bệnh ung thư.
Khi chúng ta vừa nói đến người cao tuổi làm sao để không trở thành gánh nặng cho người trẻ thì ta cũng cảnh báo người trẻ để khi các em bước vào tuổi già cũng sống lành mạnh cao thượng và làm gương tốt, chẳng những không trở thành gánh nặng cho người sau mà còn chia sẽ được gánh nặng cho con cháu và an lành ra đi trong sự tiếc thương của biết bao nhiêu người chung quanh.
Giả sử có người đã cố gắng hết sức là chia sẽ gánh nặng với con cháu, sống hợp lý đầy đủ hết nhưng bây giờ họ hết hơi và nằm một chỗ không làm gì được, vậy làm sao để có thể sống từng ngày có ích? Trong trường hợp này ta vẫn còn cái tâm cuối cùng là niệm phật cầu nguyện cho thế giới hòa bình, cầu nguyện cho con người yêu thương nhau, cầu nguyện cho nhân loại này nắm tay đi đến cõi giới đại đồng, không hận thù, không chiến tranh, không chém giết và mong rằng đạo pháp soi sáng tất cả chúng sinh để ai cũng biết hướng tâm về giác ngộ giải thoát … thì lời cầu nguyện đó vẫn tung trong hư không đi vào thế giới tâm linh vô hình chứ nó không phải là vô nghĩa. Do đó, ngày nào ta còn sống có ích dù chỉ một lời cầu nguyện thì ta sống hạnh phúc, an vui, sống xứng đáng với miếng cơm manh áo mà mình đang sử dụng và cuối cùng khi từ bỏ cuộc đời này bước sang cuộc sống mới, ta đi về đâu tùy thuộc vào lúc tuổi già ta sống như thế nào? tùy thuộc vào thời gian và lúc cao tuổi mấy mươi năm (10 năm hay 20 năm) ta sống ra sao thì lúc chết ta sinh về cõi đó.
Sau bài thuyết Pháp, TT.Thích Chân Quang hướng dẫn kỷ thuật ngồi Thiền và khí công tâm pháp cho các Phật tử nhằm tìm đến sự tĩnh tâm và đạt được tuệ giác là đỉnh cao của Thiền, đồng thời giải tỏa bộ não cho người lớn tuổi.
Kết thúc thời Pháp, ai nấy đều hoan hỷ và có được định hướng cho đời sống tinh thần của mình nhất là ở tuổi xế chiều. Liền sau đó, ông Đàm Hữu Đắc thay mặt cho TW Hội Người Cao Tuổi Việt Nam nói lời cảm ơn về tấm lòng nhân ái, sự đóng góp trí tuệ, những triết lý về một đời sống đạo và tình cảm của một nhà Sư Phật giáo đối với người cao tuổi nói chung và Hội Người Cao Tuổi Hà Nội nói riêng.
Dưới đây là hình ảnh buổi nói chuyện của TT.Thích Chân Quang với Hội Người Cao Tuổi Việt Nam tại khu biệt thự Hồ Tây – Hà Nội:
























TUỆ ĐĂNG